Công ty Biotech – Bạn cần biết về Kháng thể IgY

Thảo luận trong 'Sinh viên rao vặt' bắt đầu bởi thanhthuy_pk, 28/4/16.

  1. thanhthuy_pk New Member

    Nhiều ứng dụng có hiệu quả với IgY được sử dụng qua đường miệng nhằm khống chế một số bênh đường tiêu hóa và nhiễm trùng có nguyên nhân hoặc do vi trùng hoặc do vi rut gây bệnh cho động vật và người

    Giới thiệu
    So sánh IgY với IgG
    Ưu điểm nổi trội của kháng thể IgY so với kháng thể IgG.
    Kháng thể gia cầm IgY (Yolk Immunoglobulin) được thống kê có ưu điểm so với kháng thể động vật IgG (immunoglobulin) như trong bảng-1:
    Bảng 1: So sánh một số đặc tính của kháng thể (KT) sản xuất từ huyết thanh động vật (IgG) và kháng thể sản xuất từ trứng gia cầm (IgY) (Schade et al., 2005).
    [​IMG]

    Công ty sản xuất thuốc thú y BTV, Công ty thú y BTV, công ty sản xuất thuốc BTV

    [​IMG]
    Từ khóa hay tìm: Công ty thú y BTV, Công ty BTV, công ty Biotech

    [​IMG]

    Từ khóa hay tìm: Công ty thú y BTV, Công ty BTV, công ty Biotech
    Từ khóa hay tìm:

    Một ưu điểm có ý nghĩa quan trọng nhất đối với IgY là cho thu hoạch kháng thể là năng suất cao để tạo giá thành hạ của sản phẩm. Khác với các phương pháp thông thường là muốn chiết tách kháng thể thì cần phải lấy máu, chắt huyết thanh của con vật, sản xuất kháng thể IgY thì đơn giản hơn nhiều là chỉ cần thu hoạch trứng miễn dịch cao và việc này có thể làm được trong thời gian dài. Một ưu điểm nổi bật nữa là do khoảng cách xa nhau về nguồn gốc hình thái gen (phylogenetic distance) giữa kháng thể gia súc và kháng thể gia cầm nên IgY có tính đặc hiệu cao, và bởi vậy lượng kháng thể IgY sẽ cần sử dụng sẽ ít hơn so với sử dụng kháng thể động vât; điều này có ý nghĩa rất lớn và góp phần nâng cao độ chính xác trong phản ứng sinh học kháng nguyên–kháng thể ứng dụng trong nghiên cứu khoa học.
    Lấy ví dụ khái quát để có thể so sánh hiệu suất sản xuât kháng thể IgY, một gà để trứng sẽ cho khoảng 300 trứng/năm; mỗi lòng đỏ (15 ml) chứa khoảng 50-100 mg kháng thể IgY, trong đó có khoảng 2-10% là kháng thể đặc hiệu (Rose et al., 1974). Như vậy, từ một con gà để trứng đã được miễn dịch có thể thu về khoảng 22 gam kháng thể IgY trong 1 năm, tương đương với hơn 4 con thỏ có thể sản suất ra số lượng kháng thể tương đương (Schade et al., 2005).
    Trên cở sở các số liệu đã phân tích so sánh, chúng ta thấy được là công nghệ sản xuất kháng thể IgY vừa hợp vệ sinh, giá thành hạ, tiện lợi và dễ thu được hàm lượng cao hơn so với việc tách chiết kháng thể từ huyết thanh động vật. Việc sử dụng kháng thể IgY hoàn toàn thân thiện với môi trương, không gây phản ứng phụ, có khả năng phòng chống bệnh và trung hòa một số độc tố (Colemans M., 1999).
    Cấu trúc phân tử và chức năng hoạt động của IgY.
    Kháng thể IgY có hình thái tương đối giống kháng thể IgG ở động vật, tuy nhiên xét về chi tiết thì có sự khác nhau trong cấu trúc phân tử. Hình thái nói chung của kháng thể IgY tương tự IgG với hai chuỗi nặng và hai chuỗi nhẹ nhưng IgY có trọng lượng phân tử (180 kDa) lớn hơn IgG (150 kDa) (hình 1).

    [​IMG]



    Công ty BTV, công ty Thú Y BTV, cong ty thu y BTV

    Hình 1: Hình thái và cấu trúc phân tử IgG và IgY (Narat Mojca 2003).

    Trọng lượng phân tử (67-70 kDa) của chuỗi năng ở IgY lớn hơn chuỗi nặng của kháng thể động vật (50 kDa). Sự lớn hơn về trọng lượng phân tử của chuỗi nặng IgY là do sự tăng thêm một tiểu phần cố định (constant domain) ở chuỗi nặng và kèm theo chuỗi carbohydrate (Warr et al., 2005). IgG có 3 tiểu phần cố định (C) là C1-C3 trong khi đó IgY có 4 (C1 –C4) và với sự góp thêm của 2 chuỗi carbohydrate làm tăng thêm trọng lượng phân tử của IgY so với IgG.

    Sự khác biệt tiếp theo trong cấu trúc phân tử là vùng bản lề (hinge) của IgY ít linh hoạt hơn so với kháng thể IgG của động vật. Cấu trúc protein cũng cho thấy IgY chứa nhiều thành phần phân tử kị nước (hy-drophobic molecule) hơn IgG (Davalos-Pantoja et al., 2000). Điểm khác nữa là IgY có điểm đẳng điện ở pH 5.7-7.6, trong khi đối với IgG là 6.1 và 8.5 (Davalos-Pantoja et al., 2000; Sun et al., 2001).

    Khác với kháng thể động vật IgG, kháng thể gia cầm IgY hoàn toàn không gắn kết với bổ thể và cũng không kết hợp với các vùng cố định của kháng thể động vật (Mammalian Fc) cũng như với các thụ thể của bổ thể (Complement receptors) (Carlander et al., 2000). Kháng thể IgY không bám vào protein A, protein G cũng như rheumatoid factor, chính vì thế sẽ không có kết quả phản ứng giả như khi làm phản ứng này với kháng thể động vật IgG (Davalos-Pantoja et al., 2000). Những sự khác biệt này là những ưu điểm có ý nghĩa được đánh giá cao đối với công nghệ sản xuất kháng thể IgY trong việc ứng dụng kháng thể IgY trong nghiên cứu như các phản ứng chẩn đoán (Erhard et al., 2000), điều trị bệnh (Carlander et al., 2000) và ứng dụng đối với cấy ghép bộ phận (Fryer et al., 1999).

    Cơ chế hoạt động của kháng thể IgY

    Về các cơ chế hoạt động của IgY trong các liên kết với yếu tố gây bênh thì cho đến nay (2013) vẫn chưa được giới khoa học đưa ra bằng thực nghiệm. Tuy nhiên, có rất nhiều cơ chế giả thiết được đưa ra nhằm giải thích các hoạt động đặc hiệu của IgY đối với các yếu tố gây bệnh như sau
    Cơ chế ngưng kết
    Theo Tsobokura và cộng sự (1997) cho rằng khả năng khống chế sự phát triển của vi trùng hay các “colony” của vi trùng được quan sat khi kết hợp với IgY xảy ra giống như kết quả của sự ngưng kết vi trùng, dẫn đến khả năng làm giảm số lượng colony (CFU). Tuy nhiên phản ứng ngưng kết chỉ là ngăn ngừa bởi sự bám dính linh hoat do cấu trúc bản lề ở phân tử kháng thể igY (Gallagher and Voss, 1974).

    Cơ chế ngăn chặn sự tiếp xúc
    Nhiều nghiên cứu cho rằng cơ chế chủ yếu của IgY đặc hiệu là khả năng ngăn chặn sự tiếp xúc của mầm bênh với cơ thể (Jin et al.,1998; Lee et al., 2002). Jin và cộng sự có thí nghiệm chứng minh được hoạt động của IgY ngăn cả sự tiếp xúc của E.coli K88 đối với màng nhầy ruột ở lợn con. Đặc biệt đối với các thành phần vỏ của vi trùng Gram-âm như protein, lipopolysacharide, fimbriae (hoặc pili), và flagella – Đó chính là những yếu tố chính của vi trùng được nhận biết và bao bọc lại bởi các kháng thể poly-clonal IgY (Sim et al., 2000). Kết quả của sự bám dính bởi IgY dẫn đên ngăn cản đến sự phát triển của vi trùng và mầm bệnh. Cũng có người đánh giá sâu hơn nữa là có thể còn cơ chế là kháng thể đặc hiệu IgY dính bám và tác động đến ảnh hưởng đến chuỗi hoạt động của hàng loạt tín hiệu bên trong tế bào, dẫn đến kết quả làm giảm khả năng sinh độc tố của mầm bệnh.
    Cơ chế đánh dấu và bị tiêu hủy bởi thực bào Phagocyphosic
    Nie và cộng sự (2004) đã xác định được kháng thể IgY thực hiện việc đánh dấu để tiêu hủy tế bào vi trùng gây bênh S. aureus bằng bạch cầu trung tinh Neutrophils. Cũng tương tự như vậy, Zhen và cộng sự (2008) có thí nghiện cho thấy sự có mặt của kháng thể IgY làm tăng hoạt tính tiêu hủy tế bào gây bệnh đối với E. coli bằng 2 cách; hoặc biến đổi monocyte thành macrophage trong sữa (milk macrophage) hoặc tăng tế bào bạch cầu trung tính đa nhân. Với sự có mặt của kháng thể IgY thì sự biến đổi về cấu trúc bề mặt của vi trùng gây bệnh cũng được phát hiện đối với S. typhimurium (Lee et al., 2002) và E. coli O111 (Zhen et al., 2008). Những biến đổi này có thể được giải thích do sự thay đổi của các đám điện tử và/hay vùng tích điện trên bề mặt của tế bào vi trùng dẫn đến hiện tượng thực bào phagocytosis.
    Cơ chế trung hòa độc tố
    Nha bào của S. aureu là yếu tố có độc lực chính đối với đến bệnh viêm vú bò. Wang và cộng sự (2011) đã nghiên cứu được hiệu lực của IgY chống lại sự hình thành nha bào của S. aureu. Căn cứ vào các kết quả thí nghiệm cho thấy IgY có thể phòng ngừa được sự xâm nhập của S.aureu vào tế bào biểu mô tuyến vú và cơ chế phòng bệnh này được giải thích là do hoạt tính trung hòa độc tố của IgY hơn là khả năng ngăn chặn sự phát triển của vi trùng đối với bệnh viêm vú bò.

    Ứng dụng đối với việc sử dụng IgY
    Nhiều ứng dụng có hiệu quả với IgY được sử dụng qua đường miệng nhằm khống chế một số bênh đường tiêu hóa và nhiễm trùng có nguyên nhân hoặc do vi trùng hoặc do vi rut gây bệnh cho động vật và người (bảng 2 và 3).

    Bảng 2: Điều tra việc sử dụng kháng thể đặc hiệu IgY đối với việc khống chế bệnh đường ruôt (Mine and Kovacs-Nolan, 2002).
    [​IMG]

    Công ty BTV, công ty Thú Y BTV, cong ty thu y BTV

    Bảng 3: Điều tra việc sử dụng kháng thể đặc hiệu đối với bệnh không thuộc đường tiêu hóa

    [​IMG]

    Sử dụng IgY khống chế một số bệnh ở gia súc
    Bệnh viêm vú bò
    Một số nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở bò sữa đã được kết luận như mầm bệnh truyền nhiễm như Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae hoặc do môi trường nhiễm E. coli (Riffon et al., 2001). Kết quả sử dụng kháng thể IgY chứng minh được giảm triệu chứng lâm sàng do S. aureus và tăng chất lượng sữa (Zhen et al., 2009). Kết quả điều trị viêm vú bò bằng kháng thể IgY được so sánh với điều trị bằng kháng sinh và không điều trị như sau:

    [​IMG]
    Bệnh ỉa chảy ở lợn con
    Độc tố E.coli (Enterotoxigenic E.coli, ETEC) được xem là nguyên nhân chính gây ỉa chảy và chết đối với lợn sơ sinh và lợn con trước khi cai sữa. Kháng thể gà IgY được dùng để phòng sự độc tố E.coli vì IgY có tác dụng ngăn cản E.coli bám vào màng nhầy ở thành ruột (Jin et al., 1998). Cho lợn con uống kháng thể IgY đã được dùng để phòng và điều trị lợn con ỉa chảy do E.coli (Yoko-yama et al.,1992).
    Nhóm các nhà khoa tai trường đại học Manitoba, Canada đã có kết quả thí nghiêm cho lợn con 21 ngày tuổi uống 5 ml độc tố E.coli K88 với liều lượng 1012 CFU/ml/lợn. Lợn đối chứng dùng IgY (lấy từ gà chưa gây miễn dịch với E.coli antigen) bị ỉa chảy trong vòng 12 giờ và chết 30%. Lợn thí nghiệm dùng kháng thể IgY (lấy từ trứng gà đã được miễn dịch) chữa cho kết quả tốt và không có biểu hiện ỉa chảy sau 24 và 48 giờ (Marquardt et al., 1999). Kết quả thí nghiệm này được trình bày ở bảng sau:
    [​IMG]

    Bệnh ỉa chảy ở Bê
    Bệnh ỉa chảy ở bê sơ sinh gây do rotavirus (Bovine rotavirus, BRV) là bệnh ỉa chảy thường gây ra tỉ lệ chết cao (Lee et al., 1995). Kháng thể đặc hiệu IgY kháng-BRV đã được chứng minh được sự thành công trong điều trị bảo hộ được bê nhiễm BRV (Kuroki et al., 1994). Mầm bệnh lý gây ỉa chảy do virus khác nữa là bovine coronavirus (BCV) – loại này thường hay ỉa chảy cho bê sơ sinh và ỉa chảy cấp tính đối với bò trưởng thành. BCV còn được đánh giá có tính chất nguy hiểm hơn BRV vì virut này có khả năng nhân lên trong tế bào cả ruột non và ruột già trong khi BRV chỉ có khả năng sinh trưởng trong tế bào ruột non. Ikemori và cộng sự (1997) đã kiểm tra hiệu lực của kháng thể IgY đặc hiệu và sữa đầu của bò có kháng thể đối với BCV gây bệnh ỉa chẩy
    [​IMG]
    Các nhà khoa học thấy rằng bê đối chứng không dùng kháng thể cho kết quả bị ỉa chảy trong vòng 6 ngày công cường độc BCV và chết trong khi những bê được điều trị bằng sữa với lòng đỏ trứng hay sữa đầu có kháng thể thì tất cả những bề được điều trị không chết. kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng dưới đây.
    uy vậy, những kết quả này nhấn mạnh việc sử dung lòng đỏ trứng cho uống hoặc sữa đầu có chứa kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang có khả năng bảo hộ tốt đối với bê chống lại sự nhiễm BCV và hiệu quả việc dùng IgY còn cao hơn so với sữa đầu đã chỉ ra là miễn dịch thụ động thông qua lòng đỏ trứng có hiệu lực tốt hơn trong điều trị BCV.
    Hiệu quả bảo hộ bằng miễn dịch thu động đối với giải độc tố E. coli (anti-ET EC) bằng kháng thể IgY đối vơi E. coli gây ỉa chảy ở bê cũng được nghiên cứu và cho kết quả tốt (Ikemori et al., 1992). Những bê được cho uống sữa có kháng thể IgY chỉ xuất hiện ỉa chảy nhe và 100% khỏe mạnh, phat triển bình thường và vẫn tăng cân trong thời gian theo dõi thí nghiệm. Trái lại, những bê đối chứng không được dùng kháng thể IgY đều có biểu hiện ỉa chảy dữ dội và tất cả đều chết trong vòng 6 ngày nhiễm bệnh.

    Sử dụng IgY để khống chế một số bệnh ở gia cầm
    Bệnh Salmonellosis

    Nhiễm khuẩn Salmonella làm người ta hay nghĩ đến các khả năng gây bệnh thể cấp tính hoặc mãn tính cho gia cầm. Tuy nhiên, đã có thí nghiệm cho thấy việc sử dụng kháng thể IgY đặc hiệu với S. enteritidis hoặc S. typhimurium ngăn cản được sự phat triển của 2 loại vi trùng này (Lee et al., 2002). Các nghiên cứu đã chứng minh rằng trứng gà có chứa kháng thể đặc hiệu IgY kháng với S. enteritidis có ưu thế làm giảm nhiễm Salmonella đối với gà Broiler thương phẩm (Rahimi et al., 2007; Tellez , 2001).
    [​IMG]
    Bên cạnh đó, việc sử dụng bột lòng đỏ trứng có chứa kháng thề IgY trộn vào thức ăn cho gà đẻ trứng cũng được khuyến cáo có tác dụng tốt làm giảm khả năng nhiễm Salmonella.
    Bệnh Campylobacteriosis
    Theo nhiều tài liệu bệnh gia cầm, vi khuẩn Campylobacter jejuni đã trở thành nguồn nhiễm bệnh hang đầu đối với thị gà thương phẩm Broiler, gà tây và trứng đối với tất cả các nước. Hậu quả của việc sử dụng thực phẩm nhiễm Capilobacter là bệnh tiêu chảy và tổn hại đến hệ miễn dich.
    Năm 1997, Tsubokura và cộng sự đã sử dụng kháng thể long đỏ trứng IgY cho thí nghiệm phòng và chữa bệnh này. Kết quả cho thấy kháng thể IgY đã làm giảm 99% số lượng Campolybacter, trong khi đó thí nghiệm chữa (kháng thể IgY được dùng đều trị sau khi gây nhiễm) thấy số lượng vi trùng trong phân giảm 80-95% (Tsubokuta et al., 1997).
    Bệnh viêm túi Busa truyền nhiễm
    Bệnh viêm túi Busa truyền nhiễm (Infectious Busal Disease, IBD) hay còn được gọi là bệnh Gumboro đã được biết rộng rãi ở Viêt Nam. Lầm đầu tiên bệnh được phát hiện tại Việt Nam bởi chuyên gia Hungary đến công tác và làm việc với Viện nghiên cứu Thú-Y trung ương năm 1983. IBD là bệnh truyền nhiễm cấp tínhcó khả năng lây cao và gây chết với tỉ lệ lớn, nhất là ở gà con.
    Gà nhiễm IBD ở tuổi còn non thường đưa đến khả năng làm suy yếu hệ thống miễn dich. Gà bị nhiễm IBD sớm sẽ dẫn đến hậu quả đáp ứng miễn dich kém đối với các loại vaccine phòng bệnh khác và vì vậy lại trở nên gia tăng khả năng mẫn cảm với nhiễm trùng như E. coli hay với các vi-rus gây bệnh khác như bronchitis hay hepatictis (Muhammad et al., 1996).
    Điều trị IBD bằng kháng sinh chỉ nhằm làm giảm nhiễm trùng thứ cấp trong đàn gà đã bị nhiễm bệnh. Kết quả sử dụng kháng thể đặc hiệu IgY đã cho kết quả khả quan thay cho việc dùng kháng sinh đối với gà nhiễm IBD. Muhammad và cộng sự đã chứng minh dùng trực tiếp long đỏ của gà tối miễn dich để khống chế IBD đối với đàn gà thương phẩm. Gà broiler (28 ngày tuổi) nhiễm IBD điều tri bằng long đỏ trứng cho kết quả hơn 80% được cứu sống trong khi gà đối chứng (không dùng long đỏ) đã bị chết (Muhammad et al., 2001)
    Bệnh gà toi, gà rù
    Bệnh Newcastle là bệnh truyền nhiêm do virus gây ra tổn hại đường hô hấp và thần kinh đối với tất cả các loại gia cầm, kể cả gà tây. Bệnh này đã được ghi nhận gây ra rất nhiều thiệt hại cho rất nhiều nước có nền chăn nuôi từ nhỏ lể đến công nghiệp hóa như ngày nay; con vật đã mắc bệnh, hầu như là chết, tỉ lệ cao đến 98-99% (Lancaster JE., 1976).

    Tiêm vaccine cho gà các lưa tuổi là phương pháp tốt nhất để phòng bệnh. Tuy nhiên, tiêm vaccine không phải lúc nào cũng hiệu quả và gia cầm được tiêm vaccine vẫn có thể mắc bệnh. Khi dịch bệnh xảy ra, kháng sinh được dùng nhằm ngăn chặn nhiễm trùng thứ phat, giống như đối với IBD ở phần trên. Kháng thể đặc hiệu lòng đỏ IgY cũng đã được áp dụng ngay từ rất sớm đối với Newcastle và được ghi nhận bảo hộ khoảng 80% trong thời gian 4 tuần theo dõi thí nghiệm (Will and Luginbuhl 1963).
    Bệnh cúm gia cầm
    Hiện nay khoa học nghiên cứu kháng thể trên thế giới vẫn đang nghiên cứu việc dùng kháng thể để phòng và chữa trị bệnh cúm gia cầm (Throsby et al., 2008); kết quả nghiên cứu này cho thấy dùng kháng thể trung hòa (CR6261) tiêm trước và sau khi công cường độc có thể bảo hộ được cho chuột.
    Ở một kết quả nghiên cứu khác (Sui et al., 2009) người ta dùng phối hợp 10 loại kháng thể nhận biết H5 HA ectodomain cho kết quả bảo hộ tốt đối với vi-rut cúm gà nhóm I, bao gồm cả H5N1 và H1N1. Nghiên cứu cấu trúc của một kháng thể (F10) đã phát hiện kháng thể này bám vào pro-tein H5 của vi-rut cúm cho phép giải thích cơ chế trung hòa của kháng thể F10 là sử dụng “heavy chain into a conserved pocket in the stem region of H5”, vì thế đã ngăn cản được vi-rut cúm xâm nhập. Một kháng thể khác (CR8020) được các nhà khoa học phat hiện đã bám vào protein HA của các loại vi-rut cúm nhóm II, bao gồm cả H3 và H7 (Ekiert et al., 2011).
    Một kháng thể tiếp theo nữa là F16 lại có khả năng bám kết HA của cả hai nhóm vi-rut cúm 1 (H1) và nhóm 2 (H3) (Corti et al., 2011). Và còn nhiều kết quả nghiên cứu về kháng thể của bệnh cúm gia cầm góp phần vào sự hiểu biết cho mục đích sáng tạo và hoàn thiện vaccine cho kháng thể trung hòa làm cơ sở để tìm ra cho nguyen lý điều trị đối với vi-rut cúm. Việc sử dụng kháng thể tinh khiết để chữa bệnh cho người ngày càng đạt được nhiều thành tựu vượt bậc như đối với Herpes simplex virus type 2 (HSV-2) (Bugli et al., 2004, Crimean-Congo hemorrhagic fever virus (Saijo et al., 2005), Hepatitis C (HCV) (Meuleman et al., 2012), Mar-burg virus (Kajihara et al., 2012) và vaccinia virus (Meng et al., 2012) v.v.
    Hiện nay đã có nhiều tài liệu công bố việc sử dụng kháng thể tinh khiết chữa khỏi một số trường hợp nhiễm bệnh do vi rut HIV, vi rut Ebola, vi rut Henipah v.v. Kháng thể tinh khiết IgY miễn dịch cao, đặc hiệu đang được công ty BTV nghiên cứu qui trình sử dụng phòng và chữa bệnh cho gia cầm đối với 1 số bệnh truyền nhiễm gây tỉ lệ chết cao như Newcastle, Gumboro, viêm gan vit và dịch tả vịt. Thành công của dự án sẽ được mở rộng đối với một số bệnh truyền nhiễm khác trong tương lai.

    Sử dụng IgY để khống chế một số bệnh ở tôm, cá.
    Bệnh do virus gây hội chứng trắng đầu ở tôm
    Hội chứng trắng đầu ở tôm (white spot syndrome virus, WSSV) là một loại nguồn bệnh gây thiệt hại to lớn trong chăn nuôi thủy sản trên toàn thế giới với tỉ lệ chết cao (Wongteerasupaya et al., 1995). Bệnh gây cho tôm mất khả năng tạo miễn dich chủ động (Kimbrell and Beutler, 2001). WSSV có thể được trung hòa bởi kháng thể IgY do gà được tiêm miễn dich với protein tổ hợp có tên VP28 và VP19 (Kim et al., 2004) và vì thế gây miễn dich thụ động cho tôm bằng IgY đã được sử dụng có hiệu quả trong ứng dụng phòng trị đối vơi WSSV ở tôm. Gần đây, Lu và cộng sự đã công bố kết quả gây miễn dich thụ động cho tôm bằng IgY của gà được tiêm vaccine chết của WSSV hiệu quả sau công cường độc còn sống hơn 73%.
    Bệnh Y, ruckeri
    Bệnh gây biểu hiện đỏ miệng ở cá hồi vằn (rainbow trout), dẫn đến nhiễm trùng kế phat.Bệnh Y. ruckeri cũng được đề cập chữa trị bằng IgY cho hiệu quả tốt hơn kết hợp với sử dụng kháng sinh và làm sạch môi trường nuôi dưỡng.
    Bệnh Edwasdsiella tarda

    E. tarda là nguồn bệnh cần phải lưu ý đối với cá; bệnh này được truyền nhiễm thông qua màng nhầy của ruột (Noga 1996). Tại Nhật bản bệnh này đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi lươn năm 1973, sau đó người ta đã làm thí nghiệm với kháng thể IgY trộn vào thức ăn cho lươn và thu được kết quả tốt; ngược lai, ở lươn đối chứng không được dùng kháng thể đã bị chết trong 15 ngày của thí nghiệm (Gutierrez et al., 1993).

    Một số hiệu quả hạn chế với việc sử dụng kháng thể IgY.

    Nhược điểm lớn nhất trong việc dùng kháng thể IgY ở dạng lòng đỏ trứng là đường đưa kháng thể vào vị trí cần thiết để kháng thể có hiệu lực; ví dụ như đưa thuốc qua đường miệng nên miễn dich thụ động dễ bị ảnh hưởng bởi men phân giải protein trong đường tiêu hóa (Hatta et al., 1993). Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt tính của IgY giảm ở điều kiện pH 3.5 và mất hoạt tính khi ở pH 3. Half life của IgY trong huyết thanh của lợn sơ sinh cũng giảm nhanh hơn so với kháng thể IgG của mẹ truyền sang (Yokoyama et al., 1993).
    Để khắc phục hạn chế kháng thể IgY dễ bị các men tiêu hóa trong đường ruột phá huy, người ta đã sản xuất kháng thể IgY dưới dạng viên nang và cho kết quả tốt (Chang et al., 2002; Cho et al., 2005; Kovacs-Nolan and Mine 2005; Li et al., 2007, 2009). Một hạn chế nữa là hiệu quả dùng IgY thường tốt với vi khuẩn Gram-âm, nhưng với vi khuaamr Gram-dương thường cho hiệu quả thấp hơn – Điều này có thể được lý giải rằng do thành tế bào vi khuẩn Gram-dương có cấu tạo chắc chắn hơn (Zhen et al., 2008, 2009; Wang et al., 2011). Điểm cuối cùng được xem như là hạn chế của việc dùng kháng thể trong phòng và chữa bệnh là phải dùng cho đủ liều lượng cần thiết trong thời gian nhất định để kháng thể phat huy tác dụng; ví dụ như kháng thể IgY có tác dụng ngăn E.coli K88 bám vào bề mặt của mucosal thành ruột, nhưng không có khả năng “đẩy ra” đối với E. coli đã bám vào mucosal do tính tương tác IgY-thụ thể thấp hơn so vơi tương tác E.coli-thụ thể. (Jin et al., 1998).
    Lưu ý cuối cùng trong tài liệu tham khảo này, các tài liệu nghiên cứu công bố như đã trình bày ở trên, tất cả kháng thể IgY dùng trong thí nghiêm đều được dùng ở dạng lòng đỏ trứng.
    Hiện nay, BTV đã nghiên cứu công nghệ sản xuất kháng thể gia cầm IgY tinh khiết hàm lượng cao hơn rất nhiều so với kháng thể lòng đỏ trứng. Vì thế hiệu quả sử dụng đối với kháng thể tinh khiết chắc chăn sẽ khác, sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn – Vì thế sẽ đáp ứng đượcyêu cầu đưa chất lượng công nghệ tiên tiến nhất vào sản xuất và ứng dụng tai Việt Nam.

    Một số kết quả nghiên cứu IgY tại BTV

    Tinh khiết IgY
    Hình 2: Thử nghiệm làm tinh khiết kháng thể gia cầm IgY. Mũi tên chỉ vị trí kháng thể IgY

    [​IMG]

    • Ảnh trái: SDS-Bis 4-20% staining:
      • Cột 1, 2: Kháng thể gà IgY sau khi đã được tách lòng đỏ.
      • Cột 3: Tinh khiết kháng thể IgY từ mẫu ở cột (1) và (2)
      • Cột 3: Tách protein tạp trong mẫu kháng thể (1) và (2).
      • Cột 5, 5, 7 và 8: Thử các phương pháp làm tinh khiết khác nhau.
      • Cột 9: Kháng thể tinh khiết IgG (mouse) dùng làm đối chứng.
      • Cột 10: SeeBluePlus marker (Invitrogen).
    • Ảnh phải: Western Blot gel ảnh trái sử dụng anti-Chicken HRP.
      • Cột 1 đến 8: cho thấy nhận biết kháng thể IgY đặc hiệu
      • Cột 8: Anti-chicken IgY không nhận biết protein kháng thể chuột IgG.
    Chất lượng của kháng thể IgY tinh khiết, so sánh với kháng thể IgG động vật.. Kháng thể tinh khiết IgY trên gel polycarylamide 4-20%. Khi phản ứng với â-mecathoethanol hoặc Dithio-threitol (DTT) thì cấu trúc 1 phân tử kháng thể (IgY và IgG) sẽ bị phá vỡ liên kết disulphit giữa chuỗi nặng (heavy chain) và chuỗi nhẹ (light chain) và kết quả hình thành 2 dải băng protein (chuỗi nặng và chuỗi nhẹ tách riêng), có thể nhìn thấy trên gel nhuộm ở hình 3.

    Hình 3: So sánh kháng thể IgY với kháng thể IgG
    [​IMG]

    • Bên trái gel: Kháng thể IgG và IgY tinh khiết chạy trên gel polyacrylamide 4-20%. Không có mặt của dithiothreitol, trọng lượng phân tử của IgG (~ 150 kDa) nhỏ hơn IgY (~180 kDa).
    • Bên phải gel: Với sự tham gia của chất o xy hóa mạnh (dithiothreitol, DTT), các mạch disulphide liên kết của phân tử kháng thể bị phá vỡ; mỗi phân tử kháng thể sẽ hình thành 2 chuỗi nặng (heavy chain) và hai chuỗi nhẹ (light chain). Đối chiếu với cấu trúc phân tử của IgG và IgY (hình 1), chuỗi nhẹ của IgG và IgY có trọng lượng phân tử tương đương nhau (mũi tên dưới) trong khi đó chuỗi nặng của phân tử IgG sẽ có trong lượng phân tử nhỏ hơn (mũi tên giữa) vì ít hơn 1 vùng không biến đổi (constant domain) so với chuỗi nặng của IgY (mũi tên trên).
    Nhận xét chung về kết quả IgY tinh khiết thể hiện ở gel này, chúng tôi cho rằng mức độ tinh khiết có thể đạt khoảng 95% và đáp ứng được yêu cầu đã đề ra
    Kiểm tra kết quả phòng và chữa bệnh Newcaster và Gumboro
    Chúng tôi đã tiến hành thử kiểm tra hiệu lực phòng và chữa bệnh cho gia cầm của kháng thể IgY tinh khiết do chúng tôi sản xuất.

    Hai lô gà thí nghiệm chưa được tiêm vaccine phòng bệnh Newcastle và BDV. Gà đối chứng được công cường độc theo qui định của Trung tâm kiểm nghiệm thuốc Thú-Y, Cục Thú-Y, bộ NNVPTNN. Gà thí nghiệm chữa bằng kháng thể tinh khiết liều cao tiêm hàng ngày. Gà gà chưa miễn dịch được nhốt chung với gà được công cường độc để tạo ra khả năng nhiễm bệnh gần giống với trong môi trường chăn nuôi.

    Kết quả cho thấy tất cả gà được tiêm kháng thẻ IgY tinh khiết liều cao đều qua khỏi và sống khỏe mạnh sau 15 ngày theo dõi. Trong khi đó, gà đối chứng không được điều trị kháng thể đều chết sau 3-5 ngày, có biểu hiện bệnh tích giống như gà đã được công cường độc.

    Sơ bộ kết luận việc dùng kháng thể tinh khiết để phòng và chữa bệnh cho gà đối với hai bệnh nói trên đạt hiệu quả cao, đúng như chúng tôi dự kiến trên cơ sở khoa học giải thích. Tuy vậy chúng tôi thấy cần phải làm thêm thí nghiệm chi tiết hơn, số lượng gia cầm nhiều hơn và thời gian theo dõi lâu hơn để có thể tìm ra được qui trình cụ thể và hướng dẫn cách sử dụng để phổ biến được đến người chăn nuôi.

    Tag: Công ty BTV, công ty Thú Y BTV, cong ty thu y BTV

    Nguồn : http://biotechvietnam.net/cong-ty-biotech-ban-can-biet-ve-khang-the-igy/
    Lưu ý: Bạn phải Đăng nhập để có thể xem đầy đủ đề thi, tài liệu.

Chia sẻ trang này