Những lưu ý trong khi làm kế toán công nợ

Thảo luận trong 'Các tài liệu khác' bắt đầu bởi lazy.nta, 4/6/15.

  1. lazy.nta New Member

    Kế toán công nợ là một phần hành trong bộ máy kế toán của doanh nghiệp, liên
    quan đến các khoản phải thu phải trả của doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp
    có nhiều đối tác và khách hàng thì cần phải có kế toán công nợ theo dõi các khoản
    thanh toán cho các đối tác và các khoản phải thu của khách hàng. Khi làm kế toán
    công nợ thì các bạn kế toán, nhất là kế toán mới ra trường thường kho tránh khỏi
    việc gặp các lỗi sai sót. Những lỗi này dù rất nhỏ nhưng sẽ ảnh hưởng rất lớn đế
    doanh nghiệp. Dưới đây Dịch vụ kế toán GDT xin chia sẻ những sai sót cần tránh
    khi làm kế toán công nợ.

    1. Việc đối chiếu công nợ chưa thực hiện đầy đủ:
    - Các khoản nợ phải thu chưa có đủ Biên bản đối chiếu công nợ tại thời điểm
    cuối năm theo quy định
    - Gửi thư xác nhận nhưng tỷ lệ phản hồi về thấp
    - Công nợ phải thu chênh lệch giữa sổ kế toán và Biên bản đối chiếu công nợ,
    chưa xác định được nguyên nhân
    Riêng các doanh nghiệp xây dựng, đa số không đối chiếu nợ hoặc đối chiếu
    nợ có chênh lệch và có nhiều khoản công nợ không có đối t*ượng rõ ràng;
    2. Công tác theo dõi công nợ chi tiết hạn chế
    - Một số đơn vị chưa mở sổ theo dõi nguyên tệ
    - Việc mở sổ kế toán chi tiết chưa đảm đảm bảo yêu cầu của chế độ kế toán.
    + Một số khoản nợ phải thu khác của các đối tượng khác nhau đang theo dõi
    chung trong cùng một mã chi tiết công nợ.
    + Một số đối tượng công nợ được mở nhiều sổ kế toán chi tiết để theo dõi (kể
    cả trường hợp cùng một loại giao dịch kinh tế), thể hiện trên nhiều tài khoản nên
    không thể bù trừ được công nợ
    + Đơn vị không liên kết mã khi hạch toán nên có sự chênh lệch giữa sổ cái và
    sổ chi tiết
    + Chưa theo dõi công nợ theo tuổi nợ và không lập bảng phân tích tình hình
    công nợ phải thu, phải trả để đánh giá khả năng trả nợ, thu hồi các khoản nợ (nợ
    dưới 1 năm, Nợ quá hạn từ 1-2 năm, Nợ quá hạn từ 2-3 năm, Nợ quá hạn từ 3 năm
    trở lên, khó đòi
    + Chứng từ - tạm ứng không ghi lý do, mục đích chi tạm ứng. Trên đề nghị
    tạm ứng là tên một người, nhưng nhận tiền là người khác
    + Giấy đề nghị tạm ứng không ghi họ tên người tạm ứng, bộ phận làm việc, lý
    do tạm ứng và thời gian hoàn ứng.
    3. Hạch toán chưa đúng quy định
    - Một số khoản khách hàng chuyển trả tiền về dịch vụ đã cung cấp nhưng kế
    toán đơn vị không rõ thu về nội dung gì nên vẫn thể hiện là khoản người mua trả
    tiền trước. Thực chất là một khoản doanh thu.
    - Hạch toán vào công nợ phải thu các khoản chi phí treo
    - Hạch toán vào công nợ phải thu các khoản chi phí hay giá trị vật tư mà chưa
    tập hợp đầy đủ chứng từ, hợp đồng chưa phê duyệt nên đơn vị chưa ghi nhận chi
    phí và ghi nhận tăng vật tư, hàng hoá, tài sản.
    - Cho cán bộ nhân viên vay không lấy lãi đang phản ánh trên Tài khoản Phải
    thu khác, trong khi công ty lại đang đi vay để có vốn triển khai các hoạt động đầu
    tư, sản xuất kinh doanh.
    - Chưa hạch toán điều chỉnh số dư công nợ theo kết quả xử lý của Tòa án
    - Chưa hạch toán lãi phải thu nợ quá hạn mặc dù trên Biên bản đối chiếu công
    nợ đã tính và khách hàng ký chấp nhận thanh toán

    - Hạch toán nhầm mã công nợ chi tiết
    - Thực hiện Bù trừ công nợ phải thu phải trả không cùng một đối tượng
    - Chưa thực hiện bù trừ công nợ của một khách hàng, cùng một nội dung công
    việc
    - Hạch toán trên khoản mục tạm ứng một số khoản tiền ứng trước cho nhà
    cung cấp
    - Một số khoản tạm ứng không phục vụ mục đích kinh doanh
    - Một số đối tượng tạm ứng, chưa tiến hành hoàn ứng đã tạm ứng lần tiếp theo
    - Đối tượng theo dõi công nợ tạm ứng chi tiết trên sổ kế toán chưa đúng đối
    tượng trên chứng từ kế toán như Đối tượng: Công trình A, thực thực chất là số dư
    tạm ứng của ông A… cán bộ theo dõi công trình A
    - Quy trình hạch toán tạm ứng chưa đúng quy trình, làm đội số phát sinh tiền
    mặt.
    4. Công tác đôn đốc thu hồi công nợ còn lỏng lẻo chưa chặt chẽ
    - Công tác quản lý công nợ lỏng lẻo (chưa tuân thủ về thanh toán trong hợp
    đồng kinh tế) đã ký kết dẫn tới việc Công ty không đủ cơ sở để ràng buộc trách
    nhiệm vật chất với khách hàng đối với khoản nợ (mặc dù khách hàng đã có cam
    kết nhận nợ và trả nợ) dẫn đếnphát sinh nợ khó đòi
    - Việc thanh quyết toán, đối chiếu công nợ với khách hàng không được thực
    hiện thường xuyên vì vậy gây khó khăn cho công tác thu nợ
    - Việc đôn đốc công tác thu hồi nợ chưa được tiến hành triệt để
    - Nhiều khoản công nợ tại doanh nghiệp không xác định được đối tượng nợ để
    có biện pháp xử lý.
    - Tồn tại nhiều khoản công nợ khó đòi chưa xử lý (khi làm trợ lý kiểm toán
    phảI thu thập hồ sơ diễn biến khoản nợ)
    5. Việc trích lập dự phòng và xử lý nợ chưa được thực hiện đúng và đầy đủ
    - Lập dự phòng theo theo quy định tại Nghị định 109 mà chưa có đủ hồ sơ
    theo quy định tại TT 107
    - Nhiều khoản công nợ có số dư trên 3 năm đã đã được trích lập dự phòng
    nhưng chưa được xử lý
    - Một số khoản công nợ phải thu có số dư từ những năm trước chuyển sang,
    đơn vị vẫn chưa có biện pháp đôn đốc thu hồi công nợ.

    - Công nợ phải thu còn tồn đọng kéo dài, chưa rà soát các nguyên nhân và có
    hướng xử lý kịp thời.
    - Dự phòng nợ phải thu khó đòi chưa được trích lập hoặc trích lập chưa đúg
    theo quy định.
    - Riêng đối với công nợ phải thu nội bộ: Chưa bù trừ hết các công nợ nội bộ
    do để không đúng tính chất tài khoản (Ví dụ trong trường hợp đơn vị cấp dưới có
    tổ chức công tác kế toán riêng mới hạch toán qua TK 136, 336)
    Dịch vụ kế toán thuế GDT cảm ơn bạn đã quan tâm!
    Lưu ý: Bạn phải Đăng nhập để có thể xem đầy đủ đề thi, tài liệu.

Chia sẻ trang này

Diễn đàn chính thức sinh viên Học viện Ngân Hàng

  1. dien dan ketoan cong no

    ,
  2. những lưu ý của kế toán công nợ

    ,
  3. luu y ve ke to cong no