[Tuyển tập 30 bản án] Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường (Điều 306 Luật Thương mại 2005)

Thảo luận trong 'Hỏi đáp, thảo luận' bắt đầu bởi caselaw.vn, 8/4/16.

  1. caselaw.vn New Member

    Điều 306 Luật thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trườngtại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

    Tuy nhiên, việc xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường cần phải căn cứ trên cơ sở nào thì hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể [1]. Caselaw Việt Nam đã tiến hành thu thập và liệt kê dưới đây 1 số cách áp dụng, quan điểm của Tòa về Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 thông qua các bản án.

    Các cách áp dụng:

    1. "Lãi suất n quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi suất cho vay của ngân hàng đối với khách hàng
    2. “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố
    3. “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi cho vay liên ngân hàng
    4. “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính lãi suất trung bình của các ngân hàng thương mại
    -------------------

    1. T/H 1: Tòa đồng ý với thỏa thuận của các bên về lãi trên số tiền chậm trả
    1. [Năm 2006 – KDTM – Sơ thẩm] Bản án 39/2006/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    2. [Năm 2013 – KDTM – Sơ thẩm]Bản án 01/2013/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam

    2. T/H 2: Các bên không thỏa thuận hoặc tranh chấp về lãi trên số tiền chậm trả

    Cách áp dụng thứ 1 (thường được các ngân hàng áp dụng): “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi suất cho vay của ngân hàng đối với khách hàng

    Các bản án áp dụng:
    1. [Năm 2003 – Dân sự – Giám đốc thẩm] Bản án 26/2003/DS-GĐT - Caselaw Việt Nam
    2. [Năm 2006 – KDTM – Sơ thẩm] Bản án 636/2006/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    3. [Năm 2006 – KDTM – Sơ thẩm] Bản án 375/2006/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    4. [Năm 2006 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 241/2006/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    5. [Năm 2006 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 133/2006/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    6. [Năm 2007 – KDTM – Sơ thẩm] Bản án 1184/2007/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    7. [Năm 2011 – Dân sự – Sơ thẩm] Bản án 19/2011/DS-ST - Caselaw Việt Nam
    8. [Năm 2011 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 159/2011/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    9. [Năm 2011 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 123/2011/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    10. [Năm 2011 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 89/2011/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    11. [Năm 2013 – KDTM – Giám đốc thẩm] -Bản án 12/2013/KDTM-GĐT - Caselaw Việt Nam
    12. [Năm 2014 – KDTM - Sơ thẩm] Bản án 78/2014/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    13. [Năm 2015 – Dân sự - Sơ thẩm] Bản án 09/2015/DS-ST - Caselaw Việt Nam
    14. [Năm 2015 – Dân sự - Sơ thẩm] Bản án 82/2015/DS-ST - Caselaw Việt Nam
    Có thể lý giải lý do áp dụng theo cách này như sau:

    Khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền, thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

    Xuất phát từ quy định này, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính sau đó đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 để hướng dẫn rằng lãi suất đối với số tiền chậm trả là lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định (“Thông tư 01”). Tại một ví dụ trong văn bản này, Thông tư 01 đã dẫn chiếu tới Quyết định số 266-QĐ/NH1 ngày 27/9/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (“Quyết định 266”) để làm căn cứ cho “lãi suất nợ quá hạn”. Theo Quyết định 266, “lãi suất nợ quá hạn” đối với số tiền chậm trả được căn cứ trên lãi suất nợ quá hạn cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các tổ chức kinh tế và dân cư.

    Liên quan đến lãi suất nợ quá hạn cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các tổ chức kinh tế và dân cư tại thời điểm bấy giờ và thậm chí cho tới hiện nay, các văn bản điều hành trong lĩnh vực ngân hàng đều quy định “lãi suất nợ quá hạn cho vay” không vượt quá 150% lãi suất cho vay. Cụ thể:

    Theo Khoản 7 Điều 1 Quyết định 266: Lãi suất nợ quá hạn (cho vay) bằng 150% mức trần lãi suất cho vay cùng loại được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố. Tại Điều 1.5 của Quyết định 197-QĐ/NH1 ngày 28/6/1997 về việc điều chỉnh lãi suất cho vay bằng tiền Việt Nam và đô la Mỹ của tổ chức tín dụng đối với tổ chức kinh tế và dân cư cũng quy định lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % mức trần lãi xuất cho vay cùng loại. Sau một thời gian thực hiện, cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước không còn phù hợp. Ngày 02/8/2000, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 (“Quyết định 241”) thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của các TCTD đối với khách hàng [3]. Một trong những thay đổi căn bản của các văn bản trên là Ngân hàng Nhà nước không còn quy định mức lãi suất nợ quá hạn như trước, mà chỉ công bố mức lãi suất cơ bản. Mặc dù vậy, “lãi suất nợ quá hạn” (cho vay) vẫn được neo theo mức lãi suất cho vay với khách hàng theo Quyết định 241 cho đến ngày 19/05/2008 [4]. Nhưng vẫn chưa dừng lại ở thời điểm 19/05/2008 này, một văn bản khác Thống đốc ngân hàng nhà nước là Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 (“Quyết định 1627”) quy định về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đang còn hiệu lực vẫn đang tiếp tục neo lãi suất cho vay đối với các khoản nợ quá hạn không vượt quá 150% lãi suất cho vay.

    Như vậy, việc áp dụng “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” theo lãi suất cho vay của ngân hàng đối với khách hàng vẫn có căn cứ nếu dựa trên Thông tư 01 và Quyết định 1627.

    Cách 2: “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố

    Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

    Các bản án áp dụng
    1. [Năm 2014 – Dân sự - Sơ thẩm] Bản án 67/2014/DS-ST - Caselaw Việt Nam
    2. [Năm 2014 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 24/2014/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    3. [Năm 2014 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 16/2014/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    4. [Năm 2014 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 07/2014/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    5. [Năm 2014 – KDTM – Phúc thẩm] Bản án 301/2013/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    6. [Năm 2011 – KDTM - Phúc thẩm] Bản án 140/2011/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    7. [Năm 2015 – KDTM - Sơ thẩm] Bản án 34/2015/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    8. [Năm 2015 – KDTM - Sơ thẩm] Bản án 34/2015/KDTM-ST - Caselaw Việt Nam
    9. [Năm 2015 – KDTM - Sơ thẩm] Bản án 16/2014/KDTM-PT - Caselaw Việt Nam
    10. [Năm 2015 – KDTM - Sơ thẩm] Đang cập nhật. Đây là bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 29/2015/KDTM-ST ngày 21/9/2015 tại TAND quận 3
    Cách 3: “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính theo lãi cho vay liên ngân hàng

    Các bản án áp dụng:
    1. [Năm 2014 – KDTM - Sơ thẩm] http://caselaw.vn/ban-an/TDQGpiIg2n
    2. [Năm 2015 – Dân sự - Sơ thẩm] http://caselaw.vn/ban-an/o19fjaQ8Tc
    Cách 4: “Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” được tính lãi suất trung bình của các ngân hàng thương mại
    1. [Năm 2008 – KDTM – Phúc thẩm] http://caselaw.vn/ban-an/K14RikMTpX
    2. [Năm 2015 – KDTM - Sơ thẩm] http://caselaw.vn/ban-an/qqItipdqvp
    Chúng ta thấy rằng, các bên và Tòa án các cấp có nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất nợ quá hạn trung bình do chậm thanh toán được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005. Xin được thông tin thêm, theo Nghị quyết 89/2015/QH13 ngày 09/06/2015 về Điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2015 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, Luật thương mại 2005 không nằm trong danh mục các luật được sửa đổi, thay thế trong năm 2016. Như vậy, nếu không có sự thay đổi nào khác, tình trạng không thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật về lãi suất nợ quá hạn trung bình do chậm thanh toán có thể sẽ kéo dài. Các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất cách áp dụng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên trong vụ án.

    -------------

    [1] Xem thêm tại bài viết “Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án” của tác giả Triệu Thị Huỳnh Hoa - TAND tỉnh Đồng Nai

    [2] Tra cứu văn bản tại thuvienphapluat

    [3] Xem thêm tại: "Mức lãi suất phải trả do nợ quá hạn chưa hợp lý", Tác giả Phạm Thái

    [4] Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 được thay thế bởi Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002. Quyết định 546/2002/QĐ-NHNN hết hiệu lực ngày 19/05/2008.
    Lưu ý: Bạn phải Đăng nhập để có thể xem đầy đủ đề thi, tài liệu.

Chia sẻ trang này